Hàm Nghi
| Hàm Nghi Đế 咸宜帝 | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hoàng đế Việt Nam | |||||||||||||
Vua Hàm Nghi năm 1900 | |||||||||||||
| Hoàng đế Đại Nam | |||||||||||||
| Trị vì | 2 tháng 8 năm 1884 – 19 tháng 9 năm 1885 (1 năm, 48 ngày) ![]() | ||||||||||||
| Tiền nhiệm | Kiến Phúc | ||||||||||||
| Kế nhiệm | Đồng Khánh | ||||||||||||
| Thông tin chung | |||||||||||||
| Sinh | 3 tháng 8 năm 1871 Huế, Đại Nam | ||||||||||||
| Mất | 14 tháng 1 năm 1944 (72 tuổi) Alger, Algérie, Pháp | ||||||||||||
| An táng | Làng Thonac, Vigeois,Dordogne, Pháp. | ||||||||||||
| Thê thiếp | - Vợ đầu: Phan Thị Hòa (tại Việt Nam)
- Vợ sau: Marcelle Laloe (tại Pháp) - Người tình Gabrielle Capek | ||||||||||||
| Hậu duệ |
| ||||||||||||
| |||||||||||||
| Triều đại | Nhà Nguyễn | ||||||||||||
| Hoàng gia ca | Đăng đàn cung | ||||||||||||
| Thân phụ | Nguyễn Phúc Hồng Cai | ||||||||||||
| Thân mẫu | Phan Thị Nhàn | ||||||||||||

Hàm Nghi (chữ Hán: 咸宜 3 tháng 8 năm 1871 – 14 tháng 1 năm 1944), tên thật Nguyễn Phúc Ưng Lịch (阮福膺𧰡), là vị hoàng đế thứ tám của nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.
Là em trai của vua Kiến Phúc, năm 1884 Hàm Nghi được các phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đưa lên ngôi ở tuổi 13. Sau khi cuộc phản công tại kinh thành Huế thất bại năm 1885, Tôn Thất Thuyết đưa ông ra ngoài và phát chiếu Cần Vương chống thực dân Pháp.
Nhân danh ông, Tôn Thất Thuyết đã phát động phong trào Cần Vương, kêu gọi văn thân, nghĩa sĩ giúp vua, giúp nước. Phong trào này kéo dài đến năm 1888 thì Hàm Nghi bị bắt. Sau đó, ông bị đem an trí ở Alger (thủ đô xứ Algérie) và qua đời tại đây năm 1944 vì bệnh ung thư dạ dày. Do áp lực của Pháp nên nhà Nguyễn không lập miếu hiệu cho ông.
Ngày nay, lịch sử Việt Nam xem ông cùng với các vua chống Pháp gồm Thành Thái, Duy Tân là ba vị vua yêu nước trong thời kỳ Pháp thuộc.[1]
Xuất thân
[sửa | sửa mã nguồn]Hàm Nghi húy là Nguyễn Phúc Ưng Lịch, khi lên ngôi đổi thành Nguyễn Phúc Minh. Ông là con thứ năm của Kiên Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Phan Thị Nhàn, sinh ngày 17 tháng 6 năm Tân Mùi, tức 3 tháng 8 năm 1871 (có tài liệu ghi ông sinh ngày 22 tháng 7 năm 1872) tại Huế. Ông là em ruột của vua Kiến Phúc (Ưng Đăng) và vua Đồng Khánh (Chánh Mông hay Ưng Kỷ).
Sau khi vua Tự Đức qua đời vào tháng 7 năm 1883, mặc dù các Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết nắm trọn quyền hành trong việc phế bỏ vua này truất ngôi vua khác nhưng lại rất bị động trong việc tìm người trong Hoàng gia có cùng chí hướng để đưa lên ngôi. Trước thời Hàm Nghi, cả ba vua Dục Đức, Hiệp Hòa và Kiến Phúc đều lần lượt đi ngược lại đường lối của phái chủ chiến hoặc bị mất sớm, trở thành những phần tử không thể không bị loại bỏ khỏi triều chính đang rối ren.[2] Vua Kiến Phúc đột ngột qua đời trong lúc tình hình đang có lợi cho phái chủ chiến trong triều đình Huế.[3] Sau khi nhà vua mất, đáng lẽ con nuôi thứ hai của vua Tự Đức là Nguyễn Phúc Ưng Kỷ lên ngôi, nhưng Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết sợ lập một vị vua lớn tuổi sẽ mất quyền hành và hai ông chủ trương dứt khoát lựa chọn bằng được một vị vua ủng hộ lập trường chống Pháp nên đã chọn Ưng Lịch. Đây là một người có đủ tư cách về dòng dõi, nhưng chưa bị cuộc sống giàu sang của kinh thành làm vẩn đục tinh thần tự tôn dân tộc và quan trọng hơn hết là hai ông có thể định hướng nhà vua về đại cuộc của đất nước một cách dễ dàng.
Ưng Lịch từ nhỏ sống trong cảnh bần hàn, dân dã với mẹ ruột chứ không được nuôi dạy tử tế như hai người anh ruột ở trong cung. Khi thấy sứ giả đến đón, cậu bé Ưng Lịch hoảng sợ và không dám nhận áo mũ người ta dâng lên. Sáng ngày 12 tháng 6 năm Giáp Thân, tức ngày 2 tháng 8 năm 1884, Ưng Lịch được dìu đi giữa hai hàng thị vệ, tiến vào điện Thái Hòa để làm lễ lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Hàm Nghi. Khi đó Ưng Lịch mới 13 tuổi. Người ta nói rằng Hàm Nghi được lên nối ngôi theo di chúc của vua Kiến Phúc trước đây. Tuy nhiên, trên thực tế, Hàm Nghi được phái chủ chiến lập lên ngôi. Nhân vật cầm đầu phái chủ chiến là Tôn Thất Thuyết - Phụ chính đại thần đồng thời là Thượng thư bộ Binh.[3]
Thời gian tại kinh thành Huế
[sửa | sửa mã nguồn]Tháng 7-1884, sau khi vua Kiến Phúc đột ngột qua đời, triều đình tôn Hàm Nghi lên ngôi. Khâm sứ Pierre Paul Rheinart thấy Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết tự tiện lập vua, không hỏi ý kiến đúng như đã giao kết nên gửi quân vào Huế bắt Triều đình nhà Nguyễn phải xin phép. Rheinart gửi công hàm cho triều đình Huế rằng:
| “ |
Nam triều có lập ai lên làm vua, thì phải xin phép nước Pháp mới được. |
” |
Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết phải làm tờ xin phép bằng chữ Nôm nhưng viên Khâm sứ không chịu, bắt làm bằng chữ Hán. Hai ông phải viết lại, viên Khâm sứ mới chịu và sau đó đi cửa chính vào điện làm lễ phong vương cho vua Hàm Nghi. Công việc đầu tiên mà vua Hàm Nghi phải thủ vai, dưới sự hướng dẫn của Tôn Thất Thuyết là tổ chức đón phái đoàn Pháp từ Tòa Khâm sứ ở bờ Nam sông Hương sang điện Thái Hòa làm lễ tôn vương cho nhà vua. Đây là thắng lợi mà phe chủ chiến của triều đình Huế đã đạt được trong việc bảo vệ ngai vàng của Hàm Nghi; còn đối với người Pháp thì sau những yêu sách, đòi hỏi bất thành, họ đành phải nhân nhượng để tránh thêm những rắc rối mới bằng cách chấp nhận một sự việc đã rồi.
Lúc 9 giờ sáng ngày 17 tháng 8 năm 1884, phái đoàn Pháp gồm Đại tá Guerrier, Khâm sứ Rheinart, Thuyền trưởng Wallarrmé cùng 185 sĩ quan binh lính kéo sang Hoàng thành Huế. Guerrier buộc triều đình Huế phải để toàn bộ quân Pháp tiến vào Ngọ Môn bằng lối giữa, là lối chỉ dành cho vua đi, nhưng Tôn Thất Thuyết nhất định cự tuyệt. Cuối cùng chỉ có 3 sứ giả được vào cổng chính, còn lại các thành phần khác thì đi cổng hai bên. Cả triều đình Huế và phái đoàn Pháp đều mang tâm trạng không vừa lòng nhau, nhưng buổi lễ thọ phong cuối cùng cũng kết thúc êm thấm. Lúc phái đoàn Pháp cáo từ, Tôn Thất Thuyết đã ngầm cho quân lính đóng cửa chính ở Ngọ Môn lại nên đoàn Pháp phải theo hai lối cửa bên để về. Nhìn nhận về sự kiện này, Marcel Gaultier đã viết:
| “ |
Vua Hàm Nghi đã giữ được tính chất thiêng liêng đối với thần dân mình. Vô tình vị vua trẻ tuổi đã làm một việc có ảnh hưởng vang dội khắp nước: với ý chí cương quyết độc lập và dù người Pháp có đóng quan tại Huế, triều đình An Nam vẫn biểu dương một thái độ không hèn. Thái độ ấy do Hội đồng Phụ chính đề ra. Hội đồng ấy rất có lý mà tin chắc rằng dân chúng trông vào thái độ của nhà vua để noi theo, xem thái độ ấy như mệnh lệnh [chống lại người Pháp] không nói ra bằng lời...[4] |
” |
Năm sau 1885, Thống tướng de Courcy được Chính phủ Pháp cử sang Việt Nam để phụ lực vào việc đặt nền bảo hộ. Tướng de Courcy muốn vào yết kiến vua Hàm Nghi nhưng lại muốn là toàn thể binh lính của mình, 500 người, đi vào cửa chánh là cửa dành riêng cho đại khách. triều đình Huế xin để quân lính đi cửa hai bên, chỉ có các bậc tướng lĩnh là đi cửa chánh cho đúng nghi thức triều đình, nhưng de Courcy nhất định không chịu.
Phong trào Cần Vương
[sửa | sửa mã nguồn]
Đêm 22 rạng 23 tháng 5 âm lịch (tức đêm ngày 5 rạng ngày 6 tháng 7 năm 1885), Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, vì thấy người Pháp khinh mạn vua mình như vậy, nên quyết định ra tay trước: đem quân tấn công trại binh của Pháp ở đồn Mang Cá. Đến sáng thì quân Pháp phản công, quân triều Nguyễn thua chạy, rời bỏ Kinh thành Huế. Tôn Thất Thuyết vào cung báo lại việc giao chiến trong đêm và mời vị hoàng đế trẻ Hàm Nghi cùng Tam cung lên đường. Nghe chuyện phải rời khỏi thành, vua Hàm Nghi đã thảng thốt nói:
- "Ta có đánh nhau với ai mô mà phải chạy".[5]
Vua Hàm Nghi ngồi trong kiệu bị chao đảo liên tục, đầu bị va đập nhiều lần vào thành kiệu rất đau, sau cùng nhà vua phải xuống nằm trên võng cho lính cáng. Nguyễn Văn Tường cho người rước vua Hàm Nghi tới thành Quảng Trị để lánh nạn. Chiều ngày 6 tháng 7 thì cả đoàn mới tới Quảng Trị. Nhưng sau đó ông lại ra trình diện với quân Pháp. Tướng de Courcy hẹn cho Nguyễn Văn Tường hai tháng phải tìm cách để rước vua về. Nguyễn Văn Tường viết sớ ra Quảng Trị xin rước vua về nhưng Tôn Thất Thuyết cản thư không cho vua biết. Hết hạn hai tháng, cả gia đình Nguyễn Văn Tường bị de Courcy đày ra Côn Đảo, sau đó đưa tới đảo Tahiti ở Thái Bình Dương. Một thời gian sau Nguyễn Văn Tường qua đời, xác được đưa về Việt Nam. Ngày 9 tháng 7, dưới áp lực của Tôn Thất Thuyết, vua Hàm Nghi đành từ biệt Tam cung, lên đường đi Tân Sở.
Hàm Nghi ở Tân Sở rồi về vùng xã xa của 2 huyện Minh Hóa và Tuyên Hóa, Quảng Bình. Vua Hàm Nghi đã phải chịu nhiều khổ ải vì phải luồn lách giữa núi rừng hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt, giữa muôn vàn thiếu thốn, bệnh tật, đói khát và sự hiểm nguy về tính mạng luôn đe dọa.[2] Tại Tân Sở, vua Hàm Nghi tuyên hịch Cần Vương kêu gọi sĩ phu và dân chúng nổi dậy chống Pháp giành độc lập. Sự ủng hộ, che chở giúp đỡ và tham gia nhiệt tình của đồng bào các địa phương từ Quảng Trị qua tới đất Lào cũng như trong vùng Hà Tĩnh, Quảng Bình đã cho Hàm Nghi thấy được vai trò của bản thân mình nên nhà vua đã không còn cảm thấy bị cưỡng ép như trước. "Nhà vua bị những gian lao mà luyện thành người nhẫn nại và đón cuộc phong trần bằng thái độ rất thản nhiên".[6] Dân chúng nổi dậy rất đông, nhưng vì rải rác các nơi nên lực lượng không mạnh. Nhà vua đã hai lần xuống dụ Cần vương trong đó có một lần gửi thư cầu viện cho Tổng đốc Vân-Quý của triều Mãn Thanh và rất nhiều chỉ dụ khác tới các quan lại, lãnh tụ của phong trào chống Pháp. Tên của ông ta đã trở thành ngọn cờ của nền độc lập quốc gia... Từ Bắc chí Nam, đâu đâu dân chúng cũng nổi lên theo lời gọi của ông vua xuất hạnh.[7]
Trong suốt thời gian kháng chiến của vua Hàm Nghi, vua anh Đồng Khánh và 3 bà Thái hậu liên tục gửi thư kêu gọi vua trở về nhưng ông khẳng khái từ chối. Toàn quyền Pháp ở Đông Dương là Paul Bert cũng đã định lập Hàm Nghi làm vua 4 tỉnh Thanh Nghệ Tĩnh Bình nhưng cũng không thành. Nhà vua thường nói mình ưa chết trong rừng hơn là trở về làm vua mà ở trong vòng cương tỏa của người.[6] Tại căn cứ địa lãnh đạo phong trào Cần Vương, vua Hàm Nghi được Tôn Thất Thuyết cử con là Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp hộ giá bảo vệ, cùng Đề đốc Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân chia nhau phòng thủ và tấn công lực lượng Pháp trong vùng.

Tháng 9 năm 1888, suất đội Nguyễn Đình Tình phản bội ra đầu thú với Pháp tại đồn Đồng Cá. Nguyễn Đình Tình lại dụ được Trương Quang Ngọc về đầu thú. Sau đó Nguyễn Đình Tình và Trương Quang Ngọc tình nguyện với Pháp đem quân đi vây bắt vua Hàm Nghi. Đêm khuya 26 tháng 9 năm 1888,[8] vua Hàm Nghi bị bắt khi đang ngủ, Tôn Thất Thiệp bị đâm chết. Khi đó, ông mới 17 tuổi, chống Pháp được ba năm. Nhà vua đã chỉ thẳng vào mặt Trương Quang Ngọc mà nói rằng:
- "Mi giết ta đi còn hơn là mi mang ta ra nộp cho Tây".
Từ đêm hôm đó ở bờ khe Tá Bào, huyện Tuyên Hóa (nay là huyện Minh Hóa) tỉnh Quảng Bình, Trương Quang Ngọc mang vua Hàm Nghi về các đồn Thanh Lạng, Đồng Ca rồi sang Quảng Khê và đến đồn Thuận Bài vào chiều ngày 14 tháng 11 năm 1888. Quân Pháp tổ chức chào đón vua rất long trọng nhưng vua đã tỏ ra không hiểu, không nhận mình là Hàm Nghi. Viên Trung úy chỉ huy quân đội Bonnefoy đã chuyển bức thư của Tôn Thất Đàm gửi cho vua Hàm Nghi xem nhưng nhà vua ném lá thư xuống bàn và làm như không có can hệ gì đến mình. Viên Đề đốc Thanh Thủy là Nguyễn Hữu Viết được Pháp cử tới để thăm hỏi và nhận mặt thì nhà vua giả như không hay biết. Nhưng khi người Pháp đem thầy học cũ là Nguyễn Nhuận đến xem thì nhà vua vô tình đứng dậy vái chào. Đến lúc đó thì người Pháp mới yên trí đó là vua Hàm Nghi. Từ Thuận Bài, người Pháp chuyển vua Hàm Nghi qua Bố Trạch rồi vào Đồng Hới và tới cửa Thuận An ngày 22 tháng 11 năm 1888.
Lúc này, triều đình Huế đã biết tin Hàm Nghi bị bắt, vua Đồng Khánh sai quan lại Thừa Thiên và bộ Binh ra đón để đưa về Huế. Nhưng người Pháp sợ dân tình sẽ bị kích động khi thấy mặt vị vua kháng chiến nên đã báo cho Viện Cơ mật rằng vua Hàm Nghi lúc này tính tình khác thường, về kinh e có điều bất tiện, cần phải đưa đi tĩnh dưỡng nơi khác một thời gian. Kỳ thực người Pháp đã có quyết định dứt khoát với vị vua kháng chiến này là đày sang xứ Algérie ở Bắc Phi. Rheinart đã báo cho ông biết là Thái hậu đang ốm nặng, nếu nhà vua muốn thăm hỏi thì sẽ cho rước về gặp mặt. Nghe vậy, vua Hàm Nghi đáp: "Tôi thân đã tù, nước đã mất, còn dám nghĩ gì đến cha mẹ, anh em nữa", rồi ông cáo từ về phòng riêng.
Sau khi bị truất, cựu hoàng được chính thức gọi là Quận công Ưng Lịch.[9]
Bị Pháp lưu đày
[sửa | sửa mã nguồn]
Vào 4 giờ sáng ngày 25 tháng 11 năm 1888, vua Hàm Nghi bị đưa xuống tàu đi vào Lăng Cô. Trước phút rời xa quê hương, nhà vua nhìn lên bờ, không nén được cảm xúc vì nỗi niềm riêng và vận nước nên đã òa khóc.[10] Từ Sài Gòn, ngày 13 tháng 12 năm 1888, vua Hàm Nghi bị đưa xuống chiếc tàu mang tên "Biên Hòa" vượt đại dương đi Bắc Phi. Do không quen đi trên biển, nhà vua bị say sóng liên miên nhưng vẫn không hề thốt ra một lời kêu ca, oán thán. Chiều chủ nhật, 13 tháng 1 năm 1889,[11] Hàm Nghi đến thủ đô Alger của Algérie (tiếng Việt gọi là A Lợi Tư). Lúc này ông vừa bước qua tuổi 18. Mười ngày đầu, Hàm Nghi tạm trú tại L'hôtel de la Régence (Tòa Nhiếp chính). Sau đó, ông được chuyển về ở Villa des Pins (Biệt thự Rừng thông) thuộc làng El Biar, cách Alger 5 km.
Ngày 24 tháng 1, Toàn quyền Tirman của Algérie tiếp kiến và mời Hàm Nghi ăn cơm gia đình. Ít ngày sau, qua Toàn quyền Tirman, cựu hoàng nhận được tin mẹ là bà Phan Thị Nhàn (vợ thứ của Kiên Thái vương) đã mất vào ngày 21 tháng 1 năm 1889 tại Huế.
Trong mười tháng tiếp đó, Hàm Nghi nhất định không chịu học tiếng Pháp vì ông cho đó là thứ tiếng của dân tộc xâm lược nước mình và vẫn dùng khăn lượt, áo ngũ thân theo nếp cũ ở quê hương. Mọi việc giao thiệp đều qua thông ngôn Trần Bình Thanh. Nhưng về sau, thấy người Pháp ở Algérie thân thiện, khác với người Pháp ở Việt Nam, nên từ tháng 11 năm 1889 ông bắt đầu học tiếng Pháp. Vài năm sau, Hàm Nghi có thể nói và viết tiếng Pháp rất giỏi.
Hàm Nghi cũng giao du cùng những người nổi tiếng thuộc giới thượng lưu và trí thức Pháp, chính những mối quan hệ này đã giúp ông được giữ đãi ngộ dư dả hơn so với những vị quân vương cũng bị lưu đày ở Alger như Béhanzin (1845-1906), Ranvalona III (1961 - 1917) và Duy Tân (1899 - 1945).
Tuy thái độ của nhà cầm quyền Pháp tại Alger với Hàm Nghi là có sự ưu ái, nhưng thư từ, quà tặng của Hàm Nghi luôn bị giám sát chặt chẽ. Nên trong thư tín, các cuộc trò chuyện của Hàm Nghi luôn không đề cập hay nhắc đến chính trị.[12] Suốt cuộc đời ông vẫn mặc trang phục Việt Nam, đội khăn đống, để tóc dài và yêu cầu đầu bếp nấu món ăn Việt Nam mỗi tuần một lần cho mình.
Đời tư
[sửa | sửa mã nguồn]
- Tại Việt Nam
Bà Phan Thị Hòa (1867-1936) là người vợ đầu tiên của vua Hàm Nghi tại Việt Nam trong thời kỳ phong trào Cần Vương (trước khi nhà vua bị Pháp bắt năm 1888), bà được Thái hậu Từ Dụ sắp xếp để chăm sóc ông. Bà là con gái của cụ Phan Đình Bình và là em họ của bà Phan Thị Điều (vợ vua Dục Đức). Ngày 10/5/1888, trong một bức thư, viên chỉ huy Boulangier có viết “Con gái nhỏ của Phan Đình Bình được gả cho Hàm Nghi”. Sau khi vua bị đày, bà sinh hạ hoàng tử Bửu Trắc (1889-1966) vào đầu năm 1889 tại Nam Định. Nhánh hậu duệ của bà là một trong ba nhánh con cháu của vua Hàm Nghi.[13]
Để bảo vệ tính mạng trước sự truy lùng của thực dân Pháp, hoàng nam Nguyễn Phúc Bửu Trắc phải sống ẩn dật dưới một danh tính khác, che giấu gốc tích hoàng tộc của mình. Ông lưu lạc sang Campuchia năm 1927, với tên họ khác là Duy Thịnh, con nuôi của ông Nguyễn Duy Sắc, ngự y của Vua Hàm Nghi trong phong trào Cần Vương. Với sự giới thiệu của một quan chức cấp cao người Pháp tại Campuchia, Bửu Trắc vào làm việc cho Công ty Descours et Cabaud của Pháp tại Phnom Penh, với chức vụ là Giám đốc tài chánh. Ông sống ở Phnom Penh đến cuối đời. Ông lập gia đình, sinh con đẻ cái và qua đời năm 1966. Ông có 3 người con gồm 1 trai, 2 gái nhưng chỉ có bà Nguyễn Thị Thìn và Nguyễn Thị Tuất còn sống đến khi trưởng thành. Bà Tuất có 3 người con gồm bà Đặng Thị Hoàng Ánh, Tiến sĩ Kinh tế Đặng Giáp và ông Đặng Văn Luyện - hiện họ đang đang định cư tại Canada và Mỹ.[14]
Chưa có bằng chứng trực tiếp chứng minh Hàm Nghi biết đến sự tồn tại của người con trai này, nhưng rất có khả năng ông đã biết qua sự tuồn tin mật của những người bạn người Việt Nam và Pháp thường xuyên qua lại giữa Việt Nam và Algeria, tiêu biểu nhất là Bùi Quang Chiêu, Charles Gosselin, Thân Trọng Huề, Trần Văn Thông và Bảo Đại.
Bà Phan Thị Hòa được Thái hậu Từ Dụ ban tặng đôi đũa cung đình bằng ngà hải mã, đôi đũa đã được Hàm Nghi dùng trong phong trào Cần Vương. Đôi đũa này được bà lưu giữ sau khi vua bị lưu đày. Ngày 5/11/2024 hậu duệ của bà đã trao tặng đôi đũa cho Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế.[15]
- Tại Pháp
Năm 1904 sau khi nghe anh trai mình là Ưng Quyến (con Kiên Thái Vương, em ruột của hai vua Đồng Khánh và Kiến Phúc, anh khác mẹ với vua Hàm Nghi) qua đời và để lại cho cô vợ Nguyễn Hữu Thị Uyển (con gái đại thần Nguyễn Hữu Độ) 6 đứa con nên vì tình giọt máu sẻ chia và lo sợ các cháu ở kinh đô sẽ trở thành những "con bài chính trị" bị đặt dưới sự thao túng của thực dân Pháp, nhà vua đã bày tỏ nguyện vọng được đón con của Bửu Quyến là Bửu Thuỵ, Bửu Phong sang Alger để tự tay mình nuôi nấng, chăm sóc, đồng thời có đứa con dưới gối để hương hoả cho ông về sau khi ở Pháp. Kết quả nguyện vọng nhân đạo và tình cảm này của vua Hàm Nghi đã bị chính quyền thực dân Pháp và bà Uyển từ chối thẳng thừng. Điều này dẫn đến việc ông quyết định kết hôn với 1 người phụ nữ Pháp theo Công giáo là Marcelle Laloe.[16]
Năm 1904, Hàm Nghi đính hôn với cô Marcelle Laloe (sinh năm 1884, mất năm 1974), con gái của ông Laloe Chánh án tòa Thượng phẩm Alger. Đám cưới của họ trở thành một sự kiện văn hóa của Thủ đô Alger. Hàm Nghi cùng bà Marcelle Laloe có ba người con:
- Công chúa Như Mai sinh năm 1905 (mất năm 1999).
- Công chúa Như Lý (hoặc Như Luân)[17] sinh năm 1908 (mất năm 2005).
- Hoàng tử Minh Đức sinh năm 1910 (mất năm 1990).
Công chúa Như Mai tốt nghiệp Kỹ sư Canh nông rồi lấy bằng Thạc sĩ. Công chúa Như Lý tốt nghiệp tú tài rồi học khoa Dược tại Đại học Alger và lập gia đình với Công tước François Barthomivat de la Besse.[18][19] Còn Hoàng tử Minh Đức thì gia nhập quân đội Pháp và từng được tăng Huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh.
Dù bị vợ không cho dạy con học Tiếng Việt, nhưng Hàm Nghi vẫn dạy con cách viết tên bằng chữ Hán và Quốc Ngữ, đồng thời cũng gieo vào đầu các công chúa, hoàng tử về lịch sử, lòng tự tôn dân tộc của Việt Nam. Ngày 14 tháng 1 năm 1944, Hàm Nghi qua đời vì bệnh ung thư dạ dày tại biệt thự Gia Long, thủ đô Alger. Ông được chôn cất ở Thonac[20][21][22] (quận Sarlat-la-Canéda), vùng Nouvelle-Aquitaine, nước Pháp. Trên mộ của vua Hàm Nghi và một số tài liệu ghi ông mất năm 1944. Ông ra đi mang theo nỗi hờn vong quốc không bao giờ nguôi ngoai trong tâm trí.[2]
Mối quan hệ với Gabrielle Capek
Cuộc sống hôn nhân của Hàm Nghi với Marcelle Laloa có vẻ không hạnh phúc. Cuối cùng, năm 1918, một tình yêu đích thực cũng đến với ông, người tình là Gabrielle Capek, cô giáo dạy phụ đạo cho các con ông. Gabrielle Cakpek (1888-1980) vốn là trẻ mồ côi có cha mẹ gốc Séc định cư tại Alger. Cô và em trai Pierre Capek được nữ giáo sĩ Alphonsine Villeaumoras nuôi dưỡng.
Bà trở thành gia sư tại gia cho Như Mai vào năm 1912, khi hoàng nữ mới 7 tuổi. Tháng 10/1913, Gabrielle, Pierre và nữ giáo sĩ Villeaumoras chuyển tới sống trong một căn nhà phụ của điền trang Gia Long của Hàm Nghi ( hiện nay là toà nhà Đại sứ quán Nga tại Alger ). Mối quan hệ của bà với Hàm Nghi có vẻ bắt đầu từ 9/1918.
.
Hình chụp Gabrielle Capek, vào khoảng năm 1920.
Hàm Nghi đã gửi ít nhất 37 bức thư gửi cho người tình, Gabrielle cũng là nàng thơ trong các tác phẩm của ông, cho thấy Hàm Nghi đã có một tình yêu nồng nàn, say đắm. Ông thường mở đầu các bức thư bằng dòng chữ “Em thân yêu”, “Tình yêu của tôi”, “Em yêu dấu”. Trong một bức thư ông viết: “Hôn em cuồng nhiệt… Tôi không nhớ đã nói với em về những nữ hoàng sắc đẹp chưa… Dĩ nhiên có bao nhiêu người chen lấn, đổ xô vào xem. Mọi người ngạc nhiên vì tôi chẳng nhúc nhích gì hay ngây ngất chiêm ngưỡng như họ. Họ không biết rằng tôi đã có người đẹp hơn mọi nữ hoàng nhan sắc rồi… Tôi đã có người lý tưởng cho mình. Người lý tưởng của tôi chỉ dành cho riêng tôi, và những kẻ phàm phu thì không được biết… 21h, đến giờ rồi, em thân yêu, bậc hiền triết sẽ nghỉ ngơi. Tôi cũng thế, tôi cũng đi ngủ, nhưng trước đó phải nói với em lời chào buổi tối và hôn em cuồng nhiệt nhưng rất đỗi dịu dàng”.
Amandine Dabat gọi đó là “mối tình cuồng dại” với nhận xét: “Trong những bức thư gửi cho người tình, Hàm Nghi thể hiện sự nhạy cảm và các cảm xúc của ông. Những lá thư này mang đến cho nhân vật một chiều kích rất con người”. Chị của Vương phi Marcelle Laloa từng nói: “Tôi hiểu sự gắn bó mà Thân vương dành cho tiểu thư, bởi trong số tất cả chúng tôi, cô ấy là người duy nhất hợp với tính khí ông ấy: cô ấy hiền dịu mà ông ấy yêu sự dịu dàng. Mà em gái tôi lại là một người quyết liệt”.[23]
Ngày 29/10/1922, một bé trai ra đời, đặt tên là Jean Capek. Ban đầu bà tính che dấu việc mình mang thai con của Hàm Nghi và cố lấp liếm với Vương phi Marcelle rằng mình bị cưỡng hiếp bởi một tên hầu cận An Nam. Tuy nhiên, giáo sĩ Villeaumoras không tin chuyện này rồi báo lại sự thật cho Vương phi Marcelle Laloe, nhưng với sự thuyết phục của quý bà Germaine Laloe - chị gái Marcelle - thì đã không có chuyện gì xảy ra và Gabrielle vẫn tiếp tục được gặp cựu hoàng. Trong quá trình nuôi con, Hàm Nghi nhiều lần gửi tiền nhưng Gabrielle Capek nhất quyết từ chối khiến ông rất lo lắng, cho đến khi bà mở một cửa hàng nội thất để có thêm thu nhập. Cuối cùng ông cũng bắt bà phải nhận khoản tiền 15.000 franc cho con trai họ. Sau này bà kể lại cho con: “Mẹ không muốn từ chối bởi điều này có thể khiến ông ấy tức giận, nhưng đó là lần duy nhất chúng ta có thể nhận thứ gì đó”.
Gabrielle giữ quan hệ rất tốt với gia đình Thân vương, thường tháp tùng ông vào thành phố mua đồ. Từ tháng 11/1943, Thân vương không thể ra ngoài được nữa nên Vương phi cho phép Gabrielle được đến bên ông để chăm sóc, ít nhất hai ngày một lần cho đến khi ông qua đời.
Jean Capek sau này là phi công cho quân đội Pháp, ông rất ít khi đề cập đến thân phận cùa mình vì là con ngoài giả thú. Ông có một người con gái là bác sĩ/ thanh tra y tế Isabelle Capek. Chính Isabelle là người lưu giữ các tác phẩm nghệ thuật và thư từ của Hàm Nghi. Các tư liệu và hiện vật từ "kho tàng" của Isabelle Capek là nguồn quan trọng để hậu duệ đời thứ 5, nhánh 2 là TS. Amandine Dabat nghiên cứu, trưng bày và giới thiệu nghệ thuật của vua Hàm Nghi đến công chúng [24]
Như vậy, Vua Hàm Nghi có ba hoàng nam là Bửu Trắc (1889-1966), Minh Đức (1910-1990), Jean Capek (1922-1982) và hai hoàng nữ Như Mai (1905-1999), Như Lý (1908-2005).
Sự nghiệp hội họa
[sửa | sửa mã nguồn]Hàm Nghi bắt đầu học hội họa và điêu khắc trong thời gian bị lưu đày tại Alger (Algérie).[25] Ông sống trong một biệt thự trên đồi El Biar và bị chính quyền Pháp giám sát. Tại đây, ông học tiếng Pháp, nhiếp ảnh và vẽ. Năng khiếu của ông được phát hiện, và ông được họa sĩ Pháp Marius Reynaud, một người vẽ theo khuynh hướng Đông phương, hướng dẫn.[26] Ông chủ yếu vẽ phong cảnh ngoài trời ở Algérie, như khu vườn nhà mình, cổng La Mã ở Timgad, tàn tích Constantine và rừng cọ El Kantara. Ông cũng giao du với họa sĩ Georges Rochegrosse và nhà điêu khắc Léon Fourquet.[26]
Chân dung Hàm Nghi năm 30 tuổi
Từ năm 1893, Hàm Nghi được phép sang Pháp hai năm một lần. Năm 1899, ông gặp Auguste Rodin và học các kỹ thuật điêu khắc tại xưởng của Rodin ở Paris. Hai người trao đổi thư từ cho đến năm 1910. Từ năm 1900, ông kết thân với nhà văn Judith Gautier và vẽ nhiều cảnh biển ở Bretagne, tiêu biểu là bức Falaises de Port-Blanc.[26] Phong cách của ông theo trường phái ấn tượng và hậu ấn tượng.[25] Từ năm 1904, sau khi tiếp xúc với tranh của Paul Gauguin, ông dùng nhiều gam màu bão hòa và mảng màu phẳng. Nhiều bức phong cảnh của ông vắng bóng người. Ông coi hội họa là niềm an ủi riêng trong cảnh lưu vong và không bán tác phẩm nào, chỉ tặng cho bạn bè và người thân.[26] Ông ký tranh bằng tên Tử Xuân, biệt danh từ thời thơ ấu.[25]
Ông trưng bày tác phẩm nhiều lần tại Paris:
- tháng 6 năm 1904 tại Bảo tàng Guimet (tranh phấn màu);
- năm 1909 tại phòng tranh Devambez (bản vẽ);
- tháng 11 năm 1911 tại Galerie Mantelet;
- tháng 11 năm 1926 tại Galerie Mantelet – Colette Weil, với 38 tranh sơn dầu, 12 tranh phấn màu và 8 tác phẩm điêu khắc.[25][26][27]
Theo Tiến sĩ Amandine Dabat, ông để lại 91 bức tranh cùng nhiều tác phẩm điêu khắc.[25] Năm 2020, Bảo tàng Cernuschi (Paris) đưa hai tranh sơn dầu, hai tranh phấn màu và một tác phẩm điêu khắc của ông vào bộ sưu tập.[25] Bảo tàng Rodin cũng lưu giữ một tác phẩm của ông.[26]
Bức tranh Déclin du jour (Chiều tà) của cựu hoàng phát hiện được dưới nghệ danh Xuân Tử khi bán đấu giá ở Paris ngày 24 tháng 11 năm 2010 đã bán được với giá 8.800 euro.[28] Ngày 22 tháng 9 năm 2023, 19 bức tranh của ông được bán đấu giá tại Hôtel Drouot (Paris) với tổng giá khoảng 330.000 euro.[27]
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nỗi nhớ quê hương thấm vào tranh của Hàm Nghi. Theo Amandine Dabat, ông vẽ phong cảnh Pháp và Algérie nhưng bằng "tâm hồn Việt Nam".[29] Phần lớn tranh phong cảnh của ông không có bóng người, điều được xem là phản ánh sự cô đơn và nỗi khắc khoải của một người sống lưu vong.[29] Ông thường vẽ cảnh chạng vạng, hoàng hôn với các gam tím, xám, xanh lam và vàng, và chọn nắm bắt ánh sáng còn lại sau khi mặt trời đã lặn thay vì vẽ trực tiếp mặt trời. Bố cục tranh của Hàm Nghi đôi khi mang dáng dấp tranh thuỷ mặc của Phương Đông.[29] Trong một bức thư gửi ông de Gondrecourt năm 1897, Hàm Nghi viết rằng những bức tranh là một phần cuộc sống của ông. Qua đó ông nhìn thấy những thăng trầm của nỗi buồn và niềm vui, và chúng là niềm an ủi đối với ông.[29] Ông coi hội họa là thú vui riêng giúp mình quên đi thân phận một vị vua bị phế truất phải sống nơi đất khách,[29][30] qua sự tài tình trong nghệ thuật khi tâm sự nỗi cô tịch, u hoài và man mác buồn trong các bức tranh phong cảnh. Điều đó khiến người xem tranh phần nào thấu nỗi lòng của kẻ sống tha hương, giam cầm nhưng vẫn giữ vẹn nguyên khí tiết.
Quang cảnh dinh thự của El Biar, sơn dầu 35 x 46 cm, vua Hàm Nghi
Việc nghiên cứu Hàm Nghi với tư cách nghệ sĩ gắn liền với Amandine Dabat, hậu duệ đời thứ năm của ông.[25] Bà là tác giả luận án tiến sĩ và cuốn sách Hàm Nghi: Hoàng đế lưu vong – Nghệ sĩ ở Alger. Theo Tuổi Trẻ, sau khi công trình này được công bố, Hàm Nghi đã được coi là một họa sĩ Việt Nam tại Pháp. Bản tiếng Việt của sách ra mắt năm 2024.[25] Dabat cũng là người phụ trách triển lãm L'Art en exil về cuộc đời và tác phẩm của ông tại Bảo tàng Nghệ thuật châu Á ở Nice.[26] Dabat nêu rằng nhà nghiên cứu Nora Taylor, trong một bài viết năm 2022, xem Lê Văn Miến là họa sĩ hiện đại đầu tiên của Việt Nam, với bức Bình văn vẽ trong khoảng 1898–1905. Tuy nhiên, bức tranh đầu tiên của Hàm Nghi ra đời năm 1889, sớm hơn tranh của Lê Văn Miến.[25]
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, gia đình ông, do Amandine Dabat đại diện, đã trao tặng Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam bức sơn dầu Những sườn đồi ở Deli Ibrahim (Alger). Bức tranh được vẽ năm 1908, dùng lối chấm màu để thể hiện cảnh hoàng hôn ngược sáng, và từng được trưng bày ở Paris năm 1926. Đây là lần đầu tiên tranh của Hàm Nghi có mặt tại bảo tàng này. Giám đốc bảo tàng Nguyễn Anh Minh đánh giá tác phẩm vừa làm giàu thêm bộ sưu tập, vừa là tư liệu quý cho việc nghiên cứu mỹ thuật cận – hiện đại Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Bức tranh được trưng bày ngay sau lễ tiếp nhận, cạnh các tác phẩm của Tô Ngọc Vân và Nguyễn Gia Trí.[25]
Vinh danh
[sửa | sửa mã nguồn]Vì có tư tưởng chống Pháp, vua Hàm Nghi, cùng với các vua Thành Thái, Duy Tân, được xem là 3 vị vua yêu nước của Việt Nam thời Pháp thuộc. Đến thời điểm tháng 5 năm 2014, hài cốt vua Hàm Nghi ở làng Thonac (Pháp). Năm 2009, bài vị và di ảnh vua Hàm Nghi được hội đồng Nguyễn Phúc tộc đưa về thờ tại Thế Tổ Miếu (Hoàng thành Huế).
Niên hiệu của ông (Hàm Nghi) được đặt cho một con đường trung tâm ở Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Hà Nội có đường Hàm Nghi thuộc phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm. Tại thành phố Hải Phòng có đường Hàm Nghi ở phường Trại Chuối, quận Hồng Bàng. Tại Đà Nẵng có đường Hàm Nghi ở quận Thanh Khê. Tại thành phố Huế có đường Hàm Nghi ở phường Phước Vĩnh. Tại thành phố Móng Cái, phố Hàm Nghi kéo dài từ phố Duy Tân đến phố Trần Nhật Duật. Tại thành phố Thanh Hóa đường Hàm Nghi kéo dài suốt trục đường chính của phường Đông Hương. Và tất cả các tỉnh thành đều có tên đường Hàm Nghi.
Đặc biệt, tại Alger có một con đường là Chemin du Prince d'Annam được đặt để vinh danh Hàm Nghi, đây chính là con đường dinh thự Gia Long (nay là Đại sứ quán Nga tại Algeria) toạ lạc.[31]
Năm 1955, trường Trung học Thành Nội được dời về trường Quốc Tử Giám triều Nguyễn ở Huế và đổi tên thành trường Trung học Hàm Nghi. Trường bị giải thể năm 1975 để rồi 30 năm sau vào ngày 4 tháng 9 năm 2005 ngôi trường này chính thức được khai giảng trở lại với sự đóng góp rất lớn của cựu học sinh Trường Hàm Nghi trước 1975. Tại thành phố Đà Nẵng có trường Tiểu học Hàm Nghi và tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh có trường Trung học Hàm Nghi. Thành phố Huế cũng có trường Trung học Hàm Nghi.
Sự trở về của hậu duệ Hàm Nghi
[sửa | sửa mã nguồn]Sau 70 năm dầu dãi nắng mưa và biết bao biến động của thời cuộc, con cháu trực hệ thì sống xa Tổ quốc nên phủ Kiến Thái Vương ngày một xuống cấp. Chính lúc khó khăn nhất thì TS Kinh tế Đặng Giáp và ông Đặng Văn Luyện định cư tại Canada và Mỹ, là cháu ngoại của Hoàng tử Bửu Trắc, con của bà Nguyễn Thị Tuất trở về. Thấy tình cảnh xuống cấp trầm trọng của phủ, ông Giáp và ông Luyện đã đầu tư số tiền 10 tỷ để đại trùng tu, nên phủ mới khang trang, đẹp đẽ từ trong đến ngoài như hiện nay.[32]
Tiến sĩ Amandine Dabat (hậu duệ đời 5, thuộc nhánh của công chúa Như Lý) đã tổ chức hoặc đồng tổ chức khoảng 3 cuộc triển lãm lớn về các tác phẩm nghệ thuật của vua Hàm Nghi. [33]
Các cuộc triển lãm nổi bật gồm:
- Năm 2022: Triển lãm đầu tiên tổ chức tại Bảo tàng Nghệ thuật Châu Á ở Nice, Pháp.
- Năm 2024: Triển lãm tiếp theo tổ chức tại Vichy, Pháp, tại Bảo tàng Nghệ thuật Châu Phi và Châu Á.
- Tại Việt Nam: + Năm 2025 (25.3 - 6.4.2025): Triển lãm "Trời, Non, Nước | Allusive Panorama" trưng bày tại Điện Kiến Trung, cố đô Huế, Việt Nam. + Tại Hà Nội (Tháng 4 - 5/2026): Được tiếp nối tại Nhà Thái Học (Văn Miếu - Quốc Tử Giám).

Tháng 3/2022, ở Bảo tàng Nghệ thuật châu Á tại Nice (Pháp) diễn ra cuộc triển lãm “Nghệ thuật lưu đày” (ảnh trên) với hơn 150 tranh tượng, hiện vật lịch sử của vua Hàm Nghi. Cuộc triển lãm quý giá do công sức của TS. Amandine Dabat - cháu 5 đời của vua Hàm Nghi thực hiện. Trong buổi khai mạc, có đông đủ con cháu của vua Hàm Nghi ở các nơi đến dự bao gồm Đặng Văn Luyện (cháu đời thứ 4, nhánh 1), Isabelle Capek (cháu đời thứ 3, nhánh 3), vợ chồng Thibaut Amandine Dabat (cháu đời thứ 5, nhánh thứ 2), Philippe Dabat (đời thứ 4, nhánh 2), Aude mẹ Amandine (thứ 7), Đặng Thị Hoàng Ánh (cháu đời thứ 4)[34]
Các hậu duệ này thường xuyên quay về Việt Nam để dự các ngày lễ quan trọng của dòng họ Nguyễn Phúc và đã trao tặng cho Việt Nam không ít kỷ vật là đồ sinh hoạt của Hàm Nghi. Đặc biệt chắt gái Amandine Dabat còn thường xuyên tổ chức các toạ đàm về hành trình nghệ thuật của nhà vua và ra mắt sách "Hàm Nghi, Hoàng đế lưu vong, nghệ sĩ ở Alger" vào cuối năm 2024 tại Việt Nam.[35]
Các hậu duệ đời thứ 4 và thứ 5 đang phối hợp với các cơ quan chức năng Việt Nam để bày tỏ mong muốn sớm di dời và đưa hài cốt của ông về lại quê hương theo đúng nguyện vọng ghi trong di chúc.
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "Tuổi trẻ Online - Văn hóa - Giải trí: Tìm dấu vua trong lòng dân". Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2009.
- 1 2 3 Nguyễn Quang Trung Tiến. Vị vua trưởng thành từ niên thiếu. Tạp chí thông tin Khoa học và Công nghệ, số 1(7), 1995.
- 1 2 Dư địa chí Thừa Thiên Huế[liên kết hỏng]
- ↑ Marcel Gaultier. Le Roi Proscrit. Hà Nội, Impr. d'Extrême-Orient, 1940, tr. 40 - 41.
- ↑ Phạm Văn Sơn. Việt Nam cách mạng cận sử. Sài Gòn. Khai Trí phát hành, 1963, tr. 38.
- 1 2 Phan Trần Chúc. Vua Hàm Nghi. Hà Nội, Chinh Ký, 1952, tr. 142.
- ↑ Ch. Gosselin. L' Empire de l' Annam. Paris, Perrin et Cie, p. 239, 237.
- ↑ Về ngày vua Hàm Nghi bị bắt các tài liệu chép lại mâu thuẫn nhau. Có thể là một trong các ngày 26 tháng 9, 30 tháng 10, 2 tháng 11 năm 1888, 14 tháng 11.
- ↑ Vũ Ngự Chiêu. tr. 889.
- ↑ Phạm Văn Sơn. Việt Nam cách mang cận sử và Phan Trần Chúc. Vua Hàm Nghi.
- ↑ Những ngày này các tài liệu cũng ghi khác nhau.
- ↑ Dabat, Amandine (2018). "Le prince d'Annam (1871-1944). Un Vietnamien orientaliste en Algérie française ?". Histoire de l'art. Quyển 82 số 1. tr. 145–156. doi:10.3406/hista.2018.3786. ISSN 0992-2059.
- ↑ tảng, Công an Nhân dân-Hệ sinh thái truyền thông đa nền (ngày 16 tháng 8 năm 2025). "Vua Hàm Nghi những bí ẩn mới hé lộ". Công an Nhân dân - Hệ sinh thái truyền thông đa nền tảng. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2026.
- ↑ tảng, Công an Nhân dân-Hệ sinh thái truyền thông đa nền (ngày 16 tháng 8 năm 2025). "Vua Hàm Nghi những bí ẩn mới hé lộ". Công an Nhân dân - Hệ sinh thái truyền thông đa nền tảng. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2026.
- ↑ thanhnien.vn (ngày 5 tháng 11 năm 2024). "Những kỷ vật quý của vua Hàm Nghi vừa được trao tặng cho Huế". Báo Thanh Niên. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2026.
- ↑ Dabat, Amandine. Hàm Nghi (1871-1944) : empereur en exil, artiste à Alger (Luận văn). Agence Bibliographique de l'Enseignement Supérieur.
- ↑ Vũ Ngự Chiêu. tr. 890-1.
- ↑ Vũ Ngự Chiêu. tr. 891.
- ↑ "Gia phả họ Nguyễn Phúc". Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2010.
- ↑ "Bài báo: Những năm tháng lưu đày của Vua Hàm Nghi ở Alger". http://vi.rfi.fr/. ngày 31 tháng 12 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2015.
{{Chú thích web}}: Liên kết ngoài trong(trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ|website=|lay-source=(trợ giúp) - ↑ "Bài báo: "Đưa hài cốt vua Hàm Nghi về VN"". vnexpress.net. ngày 20 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2015.
- ↑ "17". Triển lãm ảnh cuộc đời vua Hàm Nghi.
- ↑ tảng, Công an Nhân dân-Hệ sinh thái truyền thông đa nền (ngày 16 tháng 8 năm 2025). "Vua Hàm Nghi những bí ẩn mới hé lộ". Công an Nhân dân - Hệ sinh thái truyền thông đa nền tảng. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2026.
- ↑ "Hàm Nghi, người nghệ sĩ tạo hình ở Alger và những mối tình trắc ẩn". BBC News Tiếng Việt. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2026.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Thiên Điểu (ngày 12 tháng 11 năm 2024). "Vua Hàm Nghi mới chính là họa sĩ hiện đại đầu tiên của Việt Nam, trước cả Lê Văn Miến?". Tuổi Trẻ Online.
- 1 2 3 4 5 6 7 "Hành trình nghệ thuật của hoạ sĩ Hàm Nghi, vị hoàng đế lưu vong". Vanvi Gallery.
{{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ|người dịch=(trợ giúp) (dịch từ Asian Art Newspaper) - 1 2 "19 bức tranh của vua Hàm Nghi có giá 330.000 euro". Le Auction House.
- ↑ "Phóng sự Paris bán đấu giá tranh của vua Hàm Nghi" theo RFI
- 1 2 3 4 5 Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "VV2" - ↑ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "LE2" - ↑ Metref, Arezki (ngày 6 tháng 1 năm 2026). "Ham Nghi, le prince d'Annam déporté à El Biar, Alger". Collateral (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2026.
- ↑ Lỗi chú thích: Thẻ mở
<ref>bị hỏng hoặc có tên sai - ↑ huengaynay.vn. "Lần đầu triển lãm tranh của Vua Hàm Nghi với quy mô lớn tại Hà Nội". https://huengaynay.vn. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2026.
{{Chú thích web}}: Liên kết ngoài trong(trợ giúp)|website= - ↑ VnExpress. "Hậu duệ mong muốn đưa hài cốt vua Hàm Nghi hồi hương". vnexpress.net. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2026.
- ↑ ONLINE, TUOI TRE (ngày 25 tháng 10 năm 2024). "Kỷ vật của vua Hàm Nghi được con cháu tặng lại cho Huế và Quảng Trị". TUOI TRE ONLINE. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2026.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- Nguyễn Quang Trung Tiến (1995). "Vị vua trưởng thành từ niên thiếu". Tạp chí thông tin Khoa học và Công nghệ. 1 (7).
- Vũ Ngư Chiêu (2000). Các vua cuối nhà Nguyễn 1884-1945. Tập 3. Houston: Văn Hóa.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Báu kiếm của vua Hàm Nghi Lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2007 tại Wayback Machine
